CÁC VẤN ĐỀ THƯỜNG GẶP TRONG THỜI KỲ HỒ TIÊU LÀM BÔNG

Ngày Đăng: 17/07/2025

     Làm bông và đậu trái là thời kỳ cây hồ tiêu rất nhạy cảm, dễ gặp các vấn đề có thể ảnh hưởng lớn đến năng suất. Việc nhận diện sớm các vấn đề và hiểu rõ nguyên nhân là rất quan trọng để áp dụng các biện pháp kiểm soát, khắc phục có hiệu quả cao. Trong rất nhiều vấn đề đã và đang xảy ra trong thực tiễn sản xuất thì hai nhóm vấn đề có ảnh hưởng nghiêm trọng nhất là: (i) rụng bông, rụng trái non, (ii) cây ra lá mạnh, ra bông kém.

1.Rụng bông, rụng trái non

     Rụng bông và rụng trái ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sản lượng thu hoạch. Hiện tượng này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, như do tỉa thưa sinh lý, sốc nhiệt ẩm, rối loạn dinh dưỡng và sâu bệnh hại.

1.1. Rụng do tỉa thưa sinh lý

     Hồ tiêu là một trong những cây trồng vừa ra lộc (chồi, lá non), vừa ra hoa (gié hoa) vừa nuôi quả (chuỗi quả); đa dạng kiểu sinh lý là nguyên nhân dễ xảy ra rối loạn sinh lý. Từ khi ra gié, đến khi gié được 4 tuần tuổi, thường xảy ra hiện tượng rụng tỉa thưa sinh lý. Đây là quá trình tự nhiên của cây nhằm điều chỉnh và cân bằng “chồi lá – hoa quả – bộ rễ”, đảm bảo cây khỏe mạnh, sinh trưởng phát triển tốt và có đủ nguồn lực để nuôi dưỡng những quả còn lại đạt chất lượng tốt nhất. Số lượng và tỷ lệ rụng phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe tổng thể của cây, sinh thái, nguồn nước, dưỡng chất và các sốc mà cây trải qua.

     Tuy nhiên, nếu tỷ lệ tỉa thưa (rụng) sinh lý quá cao, có thể là một dấu hiệu cảnh báo về sức khỏe của cây, sinh thái vườn và điều kiện chăm sóc chưa tốt. Một cây khỏe mạnh, có bộ rễ phát triển tốt và được cung cấp dinh dưỡng cân đối sẽ có khả năng tự điều chỉnh và duy trì tỷ lệ tỉa thưa (rụng) sinh lý ở mức thấp và hợp lý, từ đó tối ưu hóa năng suất. Nếu diễn ra quá nhanh, tỷ lệ lớn thì có thể cần phải có sự can thiệp điều chỉnh.

1.2. Rụng do sốc nhiệt ẩm (sốc thời tiết)

     Các biến động của thời tiết là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây rụng bông và trái non hàng loạt, đặc biệt trong bối cảnh khí hậu ngày càng biến đổi khó lường, khó dự báo, hai trạng thái cực đoan gây sốc nhiệt ẩm thường thấy là:

     – Nắng nóng và khô hạn: Cây sẽ bị mất nước nghiêm trọng, làm tổn thương các mô tế bào, đặc biệt là hình thành tầng rời, dẫn đến hiện tượng rụng bông, rụng trái hàng loạt. Ngoài ra, nhiệt độ cao và làm không khí khô hanh trong giai đoạn ra hoa, khiến bao phấn khó bung, hạt phấn kém sức sống, khó nảy mầm, quá trình thụ phấn bị gián đoạn, thất bại. Hậu quả là bông tiêu rụng hàng loạt, và những gié còn lại cũng bị răng cưa, bồ cào nặng. Không đủ độ ẩm và nước cũng khiến cho quá trình phát lộc và bung gié hoa bất lợi.

     – Mưa lạnh và ẩm úng: Khi vườn tiêu gặp mưa dầm gây ẩm úng (mưa nghịch tiết, mưa trái vụ), cây không thích nghi, sinh lý cây thay đổi sốc do dư nước, dẫn đến rụng bông và trái non hàng loạt. Đặc biệt, khi mưa lớn kéo dài gây ngập nước, làm rễ cây thiếu oxy, rễ cây bị tổn thương, các vi sinh vật gây hại rễ xâm nhập, gây bệnh rễ và thối rễ làm cho cây không hấp thu tốt dinh dưỡng, thậm chí bị chết nhanh, chết chậm,… thiệt hại rất lớn về năng suất, sản lượng và sức sản xuất của vườn hồ tiêu.

1.3. Rụng do rối loạn dinh dưỡng

     Dinh dưỡng đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong giai đoạn làm bông và đậu trái. Bất kỳ sự thừa, thiếu hay mất cân bằng nào về dinh dưỡng, đặc biệt là các nguyên tố đa lượng như đạm, lân, kali, đều có thể gây ra những tác hại nghiêm trọng, làm thay đổi sinh lý của cây và dẫn đến rụng bông, rụng trái non.

     – Thừa đạm: Việc cung cấp quá nhiều đạm trong giai đoạn cây đang mang trái sẽ kích thích mạnh mẽ sự phát triển của chồi và lá non, khiến cây tập trung dinh dưỡng vào sinh trưởng dinh dưỡng (ra chồi lá) thay vì phát triển sinh thực (ra hoa quả).

     – Thiếu lân, kali: Ngược lại, thiếu hụt lân và kali cũng làm sinh lý cây rối loạn, khiến gié hoa và chùm trái dễ rụng. Kali đặc biệt quan trọng trong thời kỳ này, giúp cây ra bông tập trung, tăng cường sức sống của hoa và tăng khả năng chống chịu với các điều kiện bất lợi. Lân cần cho vận chuyển và tích lũy năng lượng. Thời kỳ “cựa gà” (mầm hoa nhú) và trước/sau khi tiêu đậu trái cần đảm bảo đủ lân để tăng sức chống chịu và hạn chế rụng.

     – Thiếu trung vi lượng: Đồng thời, không kém quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn, nếu thiếu hụt các dưỡng chất trung và vi lượng thiết yếu cũng khiến gié hoa và chuỗi quả dễ rụng, cây ra hoa đậu quả giảm sút đáng kể. Trong thời kỳ này, giúp cây ra bông tập trung, tăng cường sức sống của hoa, hạt phấn và tăng khả năng chống chịu với các điều kiện bất lợi thì canxi, kẽm, bo, man gan,… cần phải được bổ sung đầy đủ và kịp thời để tăng cường sức chống chịu, sự ra hoa nuôi quả và hạn chế rụng.

1.4. Rụng do sâu bệnh hại

     Giai đoạn hồ tiêu ra hoa đậu quả sinh khối cây gia tăng (nguồn thức ăn dồi dào), thời tiết thuận lợi để một số loài sâu bệnh hại có thể bùng phát và tấn công trực tiếp vào gié hoa, làm gié hoa rụng, gây thiệt hại đáng kể cho vụ mùa.

     – Côn trùng chích hút: Các loài côn trùng chích hút như bọ xít lưới (còn gọi là rầy chữ T, rầy chữ thập, rầy thánh giá,…), bọ xít muỗi, rầy mềm, rệp sáp, nhện đỏ, rầy nhảy,… là những đối tượng gây hại chính trong giai đoạn này. Chúng sẽ chích hút nhựa từ chồi lá, gié bông và quả non, làm cho các bộ phận này bị biến dạng, thối nhũn và rụng hàng loạt. Bọ xít lưới đặc biệt gây hại mạnh vào đầu và cuối mùa mưa, thời kỳ cây ra hoa kết quả. Các vết thương do côn trùng chích hút mở cửa cho bội nhiễm các nấm gây bệnh.

     – Các nấm bệnh hại: Bệnh thán thư (do nấm Colletotrichum spp.), bệnh chết nhanh (do nấm Phytophthora), bệnh chết chậm (do nấm Fusarium), bệnh nấm hồng (do nấm Corticium Salmonicolor),… gây hại nghiêm trọng trên gié bông, gié quả, thân cành lá, bộ rễ,… Bệnh gây thối rụng gié, khô lép gié, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và năng suất hạt tiêu.

2.Cây ra lá mạnh, ra bông kém

     – Thiếu xiết nước (hãm nước): Một trong những yếu tố quan trọng trong việc xử lý ra hoa đối với cây hồ tiêu là xiết nước (tạo ra và duy trì thời kỳ hạn sinh phân hóa hoa). Nếu cây không trải qua một giai đoạn hạn sinh (xiết nước) hợp lý, nó sẽ tiếp tục duy trì sinh trưởng dinh dưỡng (phát triển thân lá) thay vì chuyển sang giai đoạn sinh trưởng sinh thực (phân hóa mầm hoa, ra hoa quả). Giai đoạn xiết nước thường kéo dài từ 25-40 ngày, tùy thuộc vào giống tiêu, sinh thái vườn, độ ẩm của đất, sức khỏe của cây và điều kiện thời tiết cụ thể. Đối với những cây quá sung hoặc tiêu tơ, thời gian xiết nước có thể cần lâu hơn để tạo đủ áp lực sinh lý, buộc cây chuyển sang giai đoạn ra hoa; nhưng lưu ý không xiết nước quá mức đến độ gây ra héo vĩnh viễn (độ ẩm đất xuống mức héo vĩnh viễn).

     – Bón thừa đạm (mất cân đối dinh dưỡng): Tương tự như nguyên nhân gây rụng bông, việc bón quá nhiều phân đạm trong giai đoạn chuẩn bị ra hoa sẽ kích thích cây phát triển mạnh về thân lá và chồi mới. Khi cây tập trung nguồn lực vào việc tạo ra lá, khả năng phân hóa mầm hoa và đậu quả sẽ giảm đáng kể khiến cây “ra lá, ít ra bông”. Nếu thiếu kali, lân và các trung vi lượng thiết yếu thì có thể cây không ra hoa kết quả thuận lợi.

3.Giải pháp chăm sóc hiệu quả

3.1. Thực hành canh tác tốt và IPM để giảm thiểu sốc nhiệt ẩm và tỉa thưa sinh lý

     Thực hành canh tác tốt, canh tác thuận tự nhiên, canh tác tái sinh, quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trong vùng cảnh quan để vườn cây sinh trưởng phát triển tốt. Đặc biệt là tầng cây choái sống, thảm cỏ che phủ đất, duy trì thiên địch, bổ sung hệ vi sinh hữu ích và quản lý dich hại tốt để phòng ngừa và kiểm soát hiệu quả sốc nhiệt ẩm, giảm nhẹ tỉa thưa sinh lý (rụng gié hoa quả).

3.2. Quản lý nước tưới

     – Quản lý nước là yếu tố then chốt, đặc biệt là việc điều tiết nước để kích thích ra hoa và đảm bảo độ ẩm trong suốt quá trình ra hoa, đậu quả.

     – Mặc dù hồ tiêu cần đủ ẩm nhưng cây lại không chịu được úng nên khi trồng cần chú ý tránh làm hố quá sâu, đọng nước, ….

     – Đất trồng tiêu cần phải tơi xốp, có khả năng giữ nước tốt nhưng đồng thời phải dễ thoát nước vào mùa mưa.

     – Việc tạo hệ thống thoát nước tốt là vô cùng cần thiết để tránh tình trạng ngập úng, đặc biệt quan trọng trong việc phòng ngừa các bệnh nguy hiểm như bệnh chết nhanh.

     – Cải thiện vi khí hậu và độ ẩm không khí phù hợp cũng rất quan trọng đối với tiêu

 3.3. Chế độ dinh dưỡng đầy đủ, cân đối, hợp lý

     Cung cấp dinh dưỡng đầy đủ và cân đối là yếu tố then chốt để cây hồ tiêu có đủ sức khỏe ra hoa đậu quả, sinh trưởng phát triển tốt và chống chịu sâu bệnh.

Bón phân cân đối

     – Việc cung cấp đầy đủ, cân đối các đa trung vi lượng phù hợp hiện trạng vườn và giai đoạn sinh lý sẽ giúp cây khỏe mạnh, tăng sức chống chịu với các điều kiện bất lợi.

     – Cụ thể, giai đoạn phục hồi sau thu hoạch, trước khi cây nhú “cựa gà” (mầm hoa) và giai đoạn phát lộc bung gié hoa đậu quả có thể sử dụng BLC NPK 20-10-10+TE, BLC NPK 19-13-8+5S+TE, BLC NPK 18-12-8+TE hoặc các sản phẩm tương tự với lượng bón 0,2–0,3 kg/trụ/lần (bón lấp cạn khi đất đủ ẩm). Trong thời kỳ mang trái, nuôi trái có thể sử dụng phân bón BLC NPK 17-7-17+7S+TE, BLC NPK 15-8-18+TE, BLC NPK 17-5-20+5S+TE với lượng 0,2-0,3 kg/trụ/lần, nếu đất và rễ không êm thì nên chia nhỏ để bón làm nhiều lần, bón lấp cạn khi đất đủ ẩm theo tán lá để cây hấp thụ tốt nhất.

Hình ảnh bao bì các sản phẩm BLC NPK của Công ty cổ phần Bình Điền – Lâm Đồng

Tăng cường phân hữu cơ và vi sinh vật có lợi

     Việc khuyến nghị sử dụng chất hữu cơ và các vi sinh vật có lợi (Trichoderma, Bacillus, Chaetomium, Streptomyces…) cho thấy một sự chuyển dịch rộng rãi hơn sang coi sức khỏe đất là nền tảng của quản lý dịch bệnh và sâu hại bền vững, giảm sự phụ thuộc vào các hóa chất tổng hợp. Điều này không chỉ đơn thuần là cung cấp dinh dưỡng mà còn là cải thiện chất đất, tăng sức đề kháng của cây và hạn chế sự phát triển của rệp sáp và nấm bệnh. Một hệ vi sinh vật đất khỏe mạnh được coi là hàng rào bảo vệ quan trọng chống lại mầm bệnh và sâu hại, thúc đẩy khả năng phục hồi lâu dài của cây và tính bền vững của nông nghiệp. Lượng bón: giai đoạn kiến thiết cơ bản bón 1 – 2 kg/trụ/lần, giai đoạn kinh doanh bón 1,5 – 3 kg/trụ/lần và bón 1 – 2 lần/năm.

Hình ảnh bao bì các sản phẩm hữu cơ vi sinh của Công ty cổ phần Bình Điền – Lâm Đồng

3.4. Cắt tỉa và vệ sinh vườn

     Cắt tỉa và vệ sinh vườn là những biện pháp canh tác cơ bản nhưng cực kỳ quan trọng, góp phần tạo môi trường thuận lợi cho cây phát triển và hạn chế sâu bệnh.

     – Tỉa cành, tạo thông thoáng cho vườn: việc cắt tỉa vườn thông thoáng, dọn sạch cỏ dại và tỉa cành cây trụ sống là cần thiết để hạn chế nơi ẩn nấp của côn trùng và giảm độ ẩm trong vườn. Đồng thời, rong tỉa cây che bóng cũng giúp tạo độ thông thoáng và cung cấp đủ ánh sáng cho vườn tiêu.

     – Loại bỏ dây lươn, cành phụ, cành sát mặt đất (khi thời tiết phù hợp)

     – Quản lý cỏ dại, thu gom và tiêu hủy lá, cành bệnh: thường xuyên dọn sạch cỏ dại xung quanh gốc cây giúp loại bỏ nơi trú ẩn của kiến và các loài côn trùng gây hại khác. Đồng thời, cần thu gom và đem tiêu hủy các cành khô, cành bị sâu bệnh hại, cũng như những lá già, lá bệnh tật rụng xuống đất.

3.4. Biện pháp sinh học: Việc tăng cường sử dụng các chế phẩm sinh học và duy trì thiên địch là xu hướng quan trọng trong nông nghiệp bền vững.

     – Thiên địch: Duy trì và khuyến khích sự phát triển của các loài thiên địch tự nhiên như kiến vàng, ong bắp cày, tò vò, bọ rùa, ruồi ăn rệp, ấu trùng bọ cánh gân, bọ trĩ bắt mồi. Chúng đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát quần thể sâu hại.

     – Chế phẩm vi sinh:

     Tưới hoặc phun các chế phẩm chứa nấm Trichoderma, Bacillus, Chaetomium,.. và vi sinh vật hiệu quả toàn bộ cây và quanh gốc cây để kiểm soát nấm bệnh và tạo một màng sinh học bảo vệ hệ rễ. Lượng sử dụng: giai đoạn kiến thiết cơ bản dùng 3-5 kg/ha, giai đoạn kinh doanh dùng 5-7 kg/ha.

Hình ảnh bao bì BLC 11 của Công ty cổ phần Bình Điền – Lâm Đồng