Tâm lý chung của nhiều nhà vườn là phải dọn cỏ thật sạch để cây trồng không bị cạnh tranh về nước, dinh dưỡng và không gian sống; để chúng phát triển tốt hơn, năng suất và chất lượng cao hơn. Nhưng sự thật có phải như vậy không? Vì sao các chương trình sản xuất bền vững như sản xuất theo chứng nhận, nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp tái sinh, nông nghiệp cảnh quan,… đều yêu cầu nhà nông phải giữ thảm cỏ trên vườn cây? Bài viết này sẽ phần nào lý giải những điểm cốt lõi của câu chuyện quản lý thảm cỏ che phủ đất.
Theo TS. Phạm Công Trí – cố vấn kỹ thuật cấp cao, chuyên gia cảnh quan bền vững, việc để mặt đất trơ trọi lại chính là nguyên nhân khiến đất đai thoái hóa, rễ cây bị tổn thương do mưa to và nắng nóng, dẫn đến hiện tượng sốc nhiệt ẩm, xót phân, ảnh hưởng đến cây trồng và làm giảm năng suất nghiêm trọng. Khi mặt đất không có thảm phủ thì phân khoáng dễ bị bốc hơi và rửa trôi, vi sinh vật bị chết nhiều và hoạt động yếu, hữu cơ bị phân hủy. Đồng thời hệ thống rễ tơ dễ bị tổn thương, phát triển yếu; khi thời tiết hay ngoại cảnh bất lợi thường xảy ra hiện tượng rễ ngừng hoạt động, là nguyên nhân sốc nhiệt ẩm khi chuyển mùa và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ngày càng trầm trọng.
Theo phương pháp “canh tác thông minh”, việc duy trì một thảm cỏ được quản lý đúng cách (khi cỏ cao khoảng 50-60 cm, phát chừa gốc cỏ 5-10 cm và phun Chế phẩm vi sinh đậm đặc BLC 11) lại mang đến những lợi ích bất ngờ; vì thảm cỏ che phủ đất là một trong ba thành tố tầng tán thực vật hình thành và cải thiện đặc tính rừng của vườn cây. Mà điều quan trọng là rừng không cần bón phân, tưới nước, phun thuốc, chăm sóc mà chúng vẫn luôn rất mạnh khỏe và chống chịu tốt, các sản phẩm từ rừng dồi dào và an toàn. Cho nên, đặc tính rừng càng lớn thì vườn cây càng tiết kiệm phân – thuốc – nước – công mà hiệu quả sản xuất càng cao.
Lớp thảm cỏ này không chỉ giúp giữ ẩm, ổn định nhiệt độ cho đất mà còn hoạt động như một “tấm đệm” tự nhiên, giúp rễ cây không bị sốc khi gặp thời tiết bất lợi hay nhà nông bón phân không hợp lý. Khi được phát đúng kỹ thuật thì cỏ chẳng những không cạnh tranh với cây trồng trên vườn mà còn cải thiện độ phì nhiêu của đất và hệ sinh thái vườn cây thuận lợi hơn. Xác cỏ sau khi phát và kết hợp với bón phân hữu cơ vi sinh BLC 08 hoặc BLC 09 hay phun Chế phẩm vi sinh đậm đặc BLC 11 sẽ trở thành nguồn hữu cơ quý giá, liên tục cải tạo đất và tăng cường hệ vi sinh hữu ích, làm cho đất ngày càng màu mỡ, giúp cây trồng khỏe mạnh và phục hồi năng suất bền vững.
Tiến sĩ Phạm Công Trí cũng cho biết thêm về định nghĩa cỏ dại của thế giới: “Cỏ tự nhiên là thực vật mọc ngoài ý muốn của con người, chúng cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng với cây cà phê. Tuy vậy, mỗi loại cỏ đều có lợi ích cung cấp hữu cơ, bồi bổ đất”. Nghĩa là, ngoài phương pháp ứng xử cũ là bằng mọi cách tiêu diệt cỏ dại để chúng không còn tồn tại trên vườn và thế là loại bỏ được sự cạnh tranh của cỏ với cây trồng; thì cách thức hiện đại trong canh tác cảnh quan mà tiến sĩ cùng các cộng sự đã phát triển thành công trong nông nghiệp tái sinh canh tác bền vững cây công nghiệp, cây ăn quả và nông lâm kết hợp (NLKH) ở Việt Nam là không để cỏ phát triển ngoài ý muốn mà “bắt chúng, hướng cỏ phát triển đúng theo ý muốn của con người”, thế là từ chỗ cạnh tranh với cây trồng, cỏ trở thành trợ thủ cải thiện độ phì đất và hỗ trợ cây trồng sinh trưởng phát triển tốt, sản xuất hiệu quả cao hơn và bền vững hơn.
Tiến sĩ Phạm Công Trí dẫn kết quả nghiên cứu của GCP-WASI cho thấy như sau:
Cỏ cao 40-80 cm lượng cỏ tươi trung bình 1,1-1,6 kg/1m². Với 30% diện tích phủ cỏ thì lượng cỏ tươi khoảng 3,3-4,8 tấn/ha (GCP-WASI). Khi kết hợp với phân vi sinh BLC hay Chế phẩm vi sinh đậm đặc BLC 11, lượng cỏ trên sẽ tạo ra phân vi sinh khoảng 2,5-3,0 tấn/ha.
Sau 1-2 năm thì các chỉ số độ phì: mùn, đạm, lân, kali và đa trung vi lượng đều tăng.

Lợi ích khi quản lý cỏ đúng và thiệt hại nếu quản lý không tốt
Cà phê thời kỳ kinh doanh có thể tạo lượng chất khô 80-150 kg/ngày/ha.
Trong khi cây hút đi từ đất: 1-2 kg N, 0,25-0,5 kg P2O5, 2-4 kg K₂O và 2-4 kg các yếu tố khác. Vậy cây lấy từ đất 5-10 kg chất khoáng (không kể nước).

=> CHỨNG TỎ Quang hợp quyết định 90-95% năng suất sinh vật học. Quang hợp của cây tích lũy sinh khối. Ánh sáng trở thành sinh khối thay vì gây hạn nóng.

Luôn duy trì thảm cỏ che phủ đất trên vườn. Khi cỏ cao khoảng 50-60 cm và trước khi hạt cỏ già thì phát cỏ và chừa lại gốc cỏ cao khoảng 5-10 cm, giữ lại xác cỏ làm lớp che phủ đất giữ ẩm và phun Chế phẩm vi sinh đậm đặc BLC 11.
Việc bổ sung hệ vi sinh vật hữu ích có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thúc đẩy phân giải xác bã hữu cơ có định hướng, tăng chất lượng hữu cơ hoai, tăng hàm lượng mùn bổ sung cho đất, đồng thời giúp cải thiện hệ vi sinh vật đối kháng kiểm soát tuyến trùng và nấm thối rễ. Các vi sinh vật cũng hoạt động tích cực trong việc tích lũy, phân giải và hoạt hóa các loại khoáng chất đa trung vi lượng cần thiết cho cây. Nhà nông thường bổ sung hệ vi sinh hữu ích bằng cách bón phân hữu cơ vi sinh BLC 08, BLC 09 hay sử dụng chế phẩm vi sinh đậm đặc BLC 11.
Những loại cỏ tiện lợi là cỏ dễ canh tác, phát dễ dàng, khi cỏ mọc sẽ cải thiện rõ rệt độ phì và đặc tính có lợi của đất; thường có sự tương hỗ cao với cây trồng. Cỏ bất lợi là cỏ gây khó khăn hay cản trở quá trình canh tác, khi cỏ mọc có thể gây ra sự thoái hóa hay bất cập về độ phì hay đặc tính của đất; thường hay gây ra những sự lấn át hay cạnh tranh với cây trồng. Vì vậy, nhà nông thường tìm cách chuyển đổi từ mảnh vườn nhiều cỏ bất lợi thành mảnh vườn có nhiều cỏ tiện lợi. Tuy nhiên, không phải là chuyển đổi bằng cách hủy diệt các loại cỏ bất lợi để mở đường cỏ tiện lợi mọc, vì quá trình này làm suy thoái đất. Thay vào đó, nên áp dụng kỹ thuật “tạo ra mạng lưới hốc phát sinh cỏ tiện lợi”, “tạo ra các băng lan tỏa thay thế bằng cỏ tiện lợi”.

GIẢI PHÁP SẢN PHẨM BLC ĐỒNG HÀNH CÙNG THẢM CỎ CHE PHỦ

Để xác cỏ sau khi phát nhanh chóng chuyển thành nguồn hữu cơ nuôi đất, và để phân khoáng bón trên nền thảm cỏ được cây hấp thu hiệu quả, nhà nông có thể kết hợp các nhóm sản phẩm sau của BLC (liều lượng theo hướng dẫn in trên bao bì):
- Chế phẩm vi sinh BLC 11 – phun ngay sau khi phát cỏ. Chứa Trichoderma spp. và Bacillus thuringiensis (Bt) mật độ 1 x 10⁸ CFU/g, tăng cường nấm Chaetomium sp. Sản phẩm giúp phân hủy nhanh xác cỏ, xác bã thực vật thành hữu cơ; phòng ngừa và đối kháng các nấm Rhizoctonia, Fusarium, Phytophthora gây thối rễ, vàng lá, xì mủ; vi khuẩn Bt hỗ trợ kiểm soát sâu tơ, sâu xanh. Cách dùng: hòa 1 kg vào 100-200 lít nước (có thể ngâm 3-5 ngày, khuấy 2-3 lần/ngày để tăng mật độ vi sinh), tưới gốc hoặc phun ướt thân, cành, hai mặt lá. Cà phê, hồ tiêu, cây ăn trái: 3-5 kg/ha thời kỳ kiến thiết cơ bản, 5-7 kg/ha thời kỳ kinh doanh; phun sáng sớm hoặc chiều mát, định kỳ 1-1,5 tháng/lần; phun hoặc tưới sau khi dùng thuốc hóa học 10-15 ngày. Dùng ủ phân: 1-2 kg BLC 11 + 1 tấn phân chuồng hoặc xác bã thực vật (vỏ cà phê, rơm rạ, cỏ mục…) + 30 kg super lân, ủ 45-60 ngày là hoai mục.
- Phân hữu cơ vi sinh BLC 08 và BLC 09 – bổ sung hữu cơ và hệ vi sinh có ích. BLC 08 (hữu cơ 18%, Bacillus sp., Trichoderma sp.) được tăng cường Azospirillum sp. có khả năng cố định đạm tự do từ không khí, giúp giảm lượng phân đạm cần bón. BLC 09 (hữu cơ 18%, Bacillus subtilis, Streptomyces spp., Trichoderma spp.) được tăng cường amino axit giúp cây hấp thu dinh dưỡng tốt hơn, khắc phục khủng hoảng sinh lý do hạn hán, nhiệt độ cao hoặc ngập úng. Cả hai đều giúp phân giải nhanh cellulose, chitin, lignin, pectin trong xác bã thành chất dễ tiêu và phòng ngừa vàng lá, thối rễ, tuyến trùng. Cà phê, hồ tiêu và cây công nghiệp: bón lót 1.000-1.500 kg/ha; bón thúc 1.500-2.500 kg/ha/lần vào đầu và cuối mùa mưa.
- Phân hữu cơ vi sinh BLC Organic NO.1, NO.2, NO.4 – cải tạo đất, giữ ẩm, tơi xốp. Organic NO.1 (hữu cơ 22%) tăng cường nấm tím Paecilomyces sp. ngăn ngừa tuyến trùng hại rễ; Organic NO.2 (hữu cơ 25%) tăng cường Chaetomium sp. và Trichoderma sp. đối kháng nấm bệnh; Organic NO.4 (hữu cơ 45%) tăng cường Bacillus sp., thích hợp cây trồng chất lượng cao, đặc sản. Cây công nghiệp thời kỳ kinh doanh: 1,5-3 kg/cây/lần, bón 1-3 lần/năm (Organic NO.4: 3 lần/năm vào đầu, giữa và cuối mùa mưa). Lưu ý: bón trước phân vô cơ ít nhất 10-15 ngày, không trộn chung với các loại phân khác, bón khi đất đủ ẩm.

