- Nguyên nhân và triệu chứng của bệnh
Cây cà phê bị vàng lá, rám cháy lá, lá đốm lan rộng, lá khô đen, rụng lá,… Trái đang lớn nhanh bỗng bị chững lại, trái bị chai, trái chậm lớn,… Bị rải rác và lan rộng nhanh chóng sau các đợt mưa dầm, nắng gắt. Nhiều trường hợp, vườn bón thúc phân khoáng bệnh càng nặng và bùng phát. Nguyên nhân do tuyến trùng và nấm rễ, sốc nhiệt ẩm và sót rễ khi bón phân NPK. Nếu phát hiện chậm cây bị tổn thương nặng nề, việc khắc phục rất khó khăn. Năm 2025, cháy lá mùa mưa là một dịch hại nghiêm trọng ở một số vùng cà phê, gây khó khăn trong việc chăm sóc cho nhà nông và tổn hại đến vườn cây.
Bệnh thường phát từ tâm điểm và lan rộng ra theo hướng gió, triền dốc hay dòng nước; nên thường có dạng đám hình nón, đám hình thang, tròn đồng tâm hay dải dích dắc. Nguyên nhân do tuyến trùng gây vết thương, mở đường cho nấm rễ bội nhiễm, gây hư hỏng và ngừng rễ. Sau những đợt mưa kéo dài nắng lên hay trong bối cảnh thời tiết bất thường thì vườn cây bị sốc nhiệt ẩm và nông dân bón thúc phân khoáng sót rễ nặng nề. Bệnh lúc đầu bị thoáng qua 1-2 tuần ở những đám nhỏ sau đó vườn cây phục hồi lại. Dần dần vùng bệnh mở rộng, nhiều cây không phục hồi mà diễn tiến bệnh nặng hơn.
Bệnh thường nặng ở những vườn không có thảm phủ, bồn trũng úng, xới xáo đất mạnh, bón hữu cơ chưa hoai (phân chuồng thô, phân chuồng tươi, phân gà nở, vỏ trấu cà thô,…) và hệ vi sinh hữu ích thiếu hụt (không sử dụng phân hữu cơ vi sinh, mem vi sinh).
1.1. Nguyên nhân
Bệnh cháy lá mùa mưa trên cà phê, là hội chứng vàng lá sốc nhiệt ẩm và bội nhiễm nấm (các nấm) Rhizoctonia solani, Cercospora sp., Colletotrichum sp. gây ra, thường gặp và có thể gây hại nghiêm trọng. Phát triển mạnh trong điều kiện độ ẩm cao, đặc biệt là vào mùa mưa, khi nấm bệnh dễ lây lan. Xuất hiện các vết bệnh màu nâu ở mép lá, chóp lá, sau đó lan dần vào phiến lá. Lá chuyển sang màu vàng, rồi nâu, và cuối cùng là nâu đen, gây cháy lá. Lá cháy, mất khả năng quang hợp, cây sẽ yếu ớt, còi cọc, chậm phát triển. Nấm bệnh có thể lây lan, làm lá bị hại nặng, thậm chí có thể làm khô ngọn, héo cây.
1.2. Biểu hiện trên vườn cà phê kiến thiết cơ bản (tái canh)
Thường bùng phát và gây hại trên các vườn cà phê vối kiến thiết cơ bản thâm canh cao. Triệu chứng chính là bị vàng, cháy rám, rụng lá hàng loạt; lây lan rất nhanh và trở nặng sau những đợt bón phân NPK thúc cây. Những cây biểu hiện trung bình đến nặng là những cây có bộ rễ ăn bàng nổi (dày khoảng 1cm) lan trên mặt bồn. Những vườn khai hoang cơ giới cày xới mạnh, Đào bồn sâu rộng, trồng âm, cào bồn mạnh, bồn bị váng. Hiện trạng chung là bồn trung bình đến trũng sâu. Vườn cà phê có xen canh hoặc cây lớn còn rải rác thì bệnh có xu hướng nặng. Những vườn có để thảm cỏ nhưng phát cỏ sát mặt đất, phát sạch cỏ mặt bồn khi bón phân thì bệnh có xu hướng bùng bất ngờ.
1.3. Biểu hiện trên vườn cà phê kinh doanh (sau tái canh)
Các vườn cà phê vối đầu kinh doanh và bắt đầu bước vào kinh doanh chính sau tái canh. Trong những năm mưa ẩm kéo dài, mầm dịch hại tồn lưu lớn, bệnh thường bị bùng phát và gây hại rất nghiêm trọng. Triệu chứng chính là cháy lá, rụng lá hàng loạt, trái ngừng phát triển, thậm chí rụng trái hàng loạt. Vườn cà phê kinh doanh bị tuyến trùng nhẹ đến trung bình (cấp 1 đến 2), thì số cây nhiễm bệnh cháy lá ở mức độ nặng (cấp 3) càng lớn (xem mô tả triệu chứng và phân cấp bệnh ở phụ lục 1). Sau các đợt mưa dầm nhiều ngày, vườn cây tiến triển bệnh vàng lá nông dân thường thúc phân khoáng (giá cà phê càng cao thì việc thúc phân càng mạnh); sau khi bón phân khoáng thì vườn cà phê càng có biểu hiện xót rễ úa vàng lá, cháy lá, rụng lá, chai quả, rụng quả,… càng nặng nề.
- Đề xuất giải pháp kiểm soát bệnh
2.1. Những khuyến cáo chung:
- Phun thuốc trị tuyến trùng, nấm thối rễ (1-2 lần, khi đất ẩm, thời tiết phù hợp).
- Sử dụng chế phẩm cải thiện đất, kích rễ, bổ sung dinh dưỡng kết hợp với chế phẩm vi sinh đậm đặc BLC 11 (sau khi phun thuốc hóa học khoảng 10 ngày – đã cách ly thuốc hóa học) dùng 2-3 lần, cách nhau 15-20 ngày khi đất ẩm, thời tiết phù hợp.
- Ngưng bón NPK+TE cho đến khi cây phục hồi rễ, có nhu cầu khoáng cao trở lại.
2.2. Giải pháp cụ thể:
* Phun thuốc BVTV trị tuyến trùng và nấm rễ (1-2 lần, khi đất ẩm, thời tiết phù hợp)
Nông dân có thể sử dụng thuốc có các hoạt chất Abamectin hoặc Fluopyram kết hợp với thuốc có các thành phần Metalaxy + Mancozeb; pha với nước theo nồng độ khuyến cáo của nhà sản xuất, phun đều trên mặt bồn, dung dịch thuốc khoảng 2-3 lít/cây.
Phun khi đất ẩm, thời tiết phù hợp, tuân thủ nguyên tắc 4 đúng. Cây nhỏ, cây bệnh nhẹ phun ít thuốc hơn; cây lớn, cây bị bệnh nặng phun nhiều hơn. Lưu ý phun đều để tăng hiệu lực kiểm soát tuyến trùng, nhưng không phun quá nhiều.
* Bón hữu cơ vi sinh để cải thiện độ phì đất và thúc đẩy rễ phát triển (1 kg bón 3-10 cây tùy theo cây lớn nhỏ), rải đều khi đất ẩm (chiều mát), chú ý phần rễ tơ ở mép tán lá.

Hình ảnh bao bì các sản phẩm hữu cơ vi sinh
* Phun/tưới hữu cơ + vi sinh cải thiện sức khỏe đất và rễ cây
Sau khi phun thuốc hóa học khoảng 10 ngày (đã cách ly thuốc hóa học), phun 2 lần, cách nhau 15-20 ngày, phun khi đất ẩm, thời tiết phù hợp, nên phun vào buổi chiều mát, không phun khi mưa to, gió lớn, nắng gắt; tuân thủ nguyên tắc 4 đúng khi phun.
Phun chế phẩm cải thiện đất kích rễ (10-15 lít/ha/lần Đầu Trâu MK Lân 10 ), kết hợp với chế phẩm vi sinh đậm đặc (8-12 kg/ha/lần men BLC 11). Pha với 2000-3000 lít nước sạch, phun đều trên mặt bồn với lượng 3-5 lít dung dịch/cây.
* Phun phân qua lá + vi sinh cải thiện sức khỏe cành, lá, quả
Việc phun phân bón lá chuyên dùng chỉ thực hiện sau khi bộ rễ phát triển tốt và cây đi đọt bung lá mạnh (rễ đang xót phun bón lá có thể gây ra cháy lá nặng hơn). Phun khi đất ẩm, thời tiết phù hợp, tuân thủ nguyên tắc 4 đúng. Cây nhỏ, cây bệnh nhẹ phun ít; cây lớn, cây bị bệnh nặng phun nhiều hơn. Lưu ý phun đều để tăng hiệu lực kiểm soát tuyến trùng, phục hồi cây và nuôi dưỡng quả, nhưng không phun quá nhiều gây cháy lá.
Phun lá dùng 1,5-2 lít Đầu Trâu MK Lân 10 và 2-3 kg BLC 11 pha với 1000-2000 lít nước phun đều trên lá, lượng 1-2 lít dung dịch/cây (tùy theo tán cây lớn nhỏ, yếu hay khỏe).
* Bón NPK-TE cân đối hợp lý
Ngưng phân NPK+TE cho đến khi cây phục hồi rễ, ra đọt lá mạnh và có nhu cầu dinh dưỡng khoáng cao trở lại. Bón nhử (tăng lượng từ từ) từ lượng 1/3, rồi 1/2, đến lượng bình thường. Lưu ý: Tuân thủ nguyên tắc bón phân 4 đúng, bón cải tiến (mỗi lần bón 2 cạnh đối diện nhau, 2 cạnh còn lại bón vào đợt kết tiếp; cứ luân phiên bón theo hai chiều ngang và dọc); chia nhỏ lượng phân bón nhiều lần để tránh xót rễ.





